Có lúc (1988), diện tích đất của riêng Hoàng Cung ở trung tâm thủ đô Tokyo trị giá hơn cả đất của toàn bang Califfornia (Hoa Kỳ).
Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ở Hoa Kỳ đang gợi lại những hồi ức về sự đổ vỡ kinh tế tại Nhật Bản trong những năm đầu của thập niên 1990, và giúp các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ có cuốn cẩm nang về những việc cần và không cần làm.
Khá giống với những gì xảy ra tại Phố Wall của Hoa Kỳ, cuộc khủng hoảng ở Nhật Bản những năm trước bắt nguồn từ sự sụp đổ của thị trường đầu cơ bất động sản phát triển bùng nổ. Nền kinh tế phát triển kỳ diệu thời hậu Thế chiến II đã bị lụi bại một cách nhanh chóng bởi những quyết định tồi tệ hoặc thái độ thiếu quyết đoán của giới hoạch định chính sách ở Nhật Bản.
Cho dù lại bị tác động bởi sự phát triển kinh tế chậm lại của thế giới, nhưng nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này sau đó đã phục hồi từng bước sau thời kỳ được gọi là "thập niên bị tước mất" trong những năm 1990, khi Nhật Bản lâm vào cuộc suy thoái từng phá nát mô hình đảm bảo công ăn việc làm suốt đời cho công nhân viên của các công ty.
Cuộc khủng hoảng ở Nhật Bản phát sinh từ sự phát triển bong bóng đầu cơ trong những năm 1980, khi các nhà đầu tư rót tiền vào bất động sản - thị trường có giá vọt lên tới những mức khác thường. Có thời điểm trong năm 1988, diện tích đất ở dưới Cung Hoàng đế Imperrial Palace ở trung tâm thủ đô Tokyo trị giá hơn cả toàn bang Califfornia (Hoa Kỳ). Còn chỉ số Nikkei vào cuối năm 1989 đã chạm ngưỡng 39.000 điểm, so với con số 12.000 điểm hiện nay.
Nhưng sự phát triển bùng nổ của thị trường chứng khoán và bất động sản Nhật Bản suy sụp trong mấy tháng, và nước này rơi vào cuộc suy thoái kinh tế và giảm phát, tác động mạnh đến các ngân hàng trong nước. Chính sách tiền tệ lỏng lẻo đã tạo điều kiện cho các ngân hàng cho vay một cách mù quáng trong những năm 1980 và bất ngờ "chìm" trong đống nợ nần mà họ không thể thu về được trong bối cảnh những khoản nợ này được bảo đảm bằng bất động sản có giá xuống dốc không phanh. Việc các ngân hàng từ chối thừa nhận tai họa sắp đến và chính phủ miễn cưỡng hành động đã làm cuộc khủng hoảng tồi tệ thêm.
Ngân hàng Nhật Bản đã cắt giảm lãi suất mạnh từ mức 6% năm 1991 xuống còn 2% năm 1994 để cố đảm bảo nguồn tiền mặt ổn định cho hệ thống ngân hàng. Kể từ năm 1992, Chính phủ Nhật Bản bắt đầu tăng chi tiêu tài chính công để vực dậy nền kinh tế. Tuy nhiên, các nhà phân tích kinh tế cho rằng biện pháp ứng phó của giới chức Nhật Bản là quá chậm và chưa quyết liệt. Tình trạng này cộng với những sai lầm trong chính sách đã làm cho cuộc khủng hoảng kéo dài sang đầu thế kỷ 21. Chương trình tăng chi tiêu nói trên, gồm nhiều dự án xây dựng, tuy tiếp sức cho đảng Dân chủ Tự do cầm quyền nhưng lại làm xấu thêm vấn đề nợ của nhà nước. Với hy vọng cân bằng ngân sách, năm 1997 chính phủ nước này tăng thuế tiêu dùng từ 3% lên 5% - động thái được xem như là một thảm họa vì "góp phần" đẩy nền kinh tế tái rơi vào suy thoái. John Makin, giáo sư Viện nghiên cứu chính sách doanh nghiệp Hoa Kỳ, nói sai lầm nữa của Nhật Bản là không đảm bảo đủ sự thanh khoản cho nền kinh tế vì họ cho rằng chỉ cần duy trì lãi suất ở mức thấp là đủ.
Năm 1998, Ngân hàng trung ương Nhật Bản thực hiện một bước đi khác thường là giảm lãi suất xuống gần bằng 0%. Song cho đến khi Thủ tướng có đầu óc cải cách Junichiro Koizumi lên nắm quyền vào năm 2001, chính phủ nước này mới buộc các ngân hàng phải giải quyết các khoản nợ xấu để làm lành mạnh hóa ngành ngân hàng.
Giáo sư Makin nhận định: "Những gì Nhật Bản đau đớn trải qua trong những năm 1990 đem đến cho giới chức Hoa Kỳ sự chỉ dẫn hữu ích. Đây cũng là lời nhắc nhở rằng cách tiếp cận tồi tệ nhất trong việc giải quyết những vấn đề bất thường mà chúng ta phải đối mặt là phủ định sự tồn tại của chúng." Theo ông Makin, cho đến nay chưa có dấu hiệu nào để nói rằng Hoa Kỳ đã bước vào thập niên tồi tề như Nhật Bản trước đây. Chính phủ Hoa Kỳ vừa đề xuất kế hoạch cứu trợ trị giá 700 tỷ USD để mua các tài sản được thế chấp liên quan của các ngân hàng hiện đang trong cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại khủng hoảng trong những năm 1930 đến nay. Trước đó, Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ đã thông báo việc cung ứng khoản tiền mặt 180 tỷ USD để ổn định thị trường nước này.
www.SAGA.vn | VNA/AFP |